http://tripperplanet.com/wp-content/uploads/2015/12/logo.png

Bản Vẽ – Ngày nhiều kỷ niệm

  • 64 Bài viết
  • 10 Bình luận
  • 0 Yêu thích

THÔNG SỐ BÀI VIẾT

CHIA SẺ QUA

  • 108 Lượt xem
  • 2 Yêu thích
  • 0 Chia sẻ
  • 0 Bình luận

Đang cập nhật…

Chuyến đi đến với đồng bào xã vùng sâu, vùng xa Hữu Khuông thuộc huyện Tương Dương đem lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Từ thành phố Vinh nhóm đi xe theo đường 7 hơn 220km qua các huyện Anh Sơn, Con Cuông rồi đến thị trấn Hòa Bình của Tương Dương. Từ đây xe tiếp tục đưa chúng tôi đến cửa xả lũ thuỷ điện Bản Vẽ và dừng tại đó vì không thể tiếp tục chạy thêm. Từ cửa xả lũ nhóm rời xe để chuyển sang đi đò. Chiếc đò vòng vèo lướt qua những quảng giao trên lòng hồ thủy điện gần 2 giờ rồi cũng đến được bến đò. Do đi vào mùa khô nước cạn nên đường kéo dài thêm do phải vòng thêm qua các quãng núi. Theo lời anh Long (người cán bộ huyện xuống hỗ trợ đoàn) thì nếu mùa mưa nước dâng cao thời gian đi sẽ rút ngắn hơn và đi đến được ngay chân bản.

Cảnh sắc thiên nhiên nơi đây rất đẹp từ màu nước màu trời trong xanh đến từng gợn mây trắng trôi lững lờ sau những ngọn núi, cánh rừng. Chiếc đò đi ngang qua những chiếc bè tre nhử cá được thả nổi trên lòng hồ. Đây là những chiếc bè được làm từ các thân tre, bên dưới bè là vó lưới được mắc dây vào 4 cột cắm cao ở 4 góc. Từ 4 góc lại có những sợi dây nối về chiếc đèn trắng dụ cá treo ở giữa bè. Theo lời người dẫn đường thì đêm về ánh đèn sẽ thu hút các loài sinh vật đến bên ánh đèn rồi rơi xuống làm thức ăn cho cá, từ đó cá sẽ quanh quẩn sống quanh bè, khi cần ngư dân chỉ cần kéo vó lên để bắt cá. Từ những thân tre mà tôi cảm nhận được sức sống mãnh liệt của loài cây mảnh mai mà vô cùng dẻo dai này. Những chồi xanh đâm nhánh từ thân tre như vượt qua mọi khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống. Anh lái đò kể rằng vài năm trước cá chỉ be bé nhưng giờ đã có con thích nghi điều kiện sống mới nên có con lên gần 2kg, những thay đổi này giúp nguồn thủy sản được dồi dào hơn.

Sau gần 2 giờ ngồi trên đò đi khoảng 40km trên lòng hồ, nhóm đặt chân lên bến đò của xã Hữu Khuông. Mùa nắng nóng, nước cạn khô rút sâu nên từ bến đò cả đám tiếp tục hành trình thêm gần 4 km đường rừng để vào bản. Dưới ánh nắng gắt gỏng của trưa hè, đoàn lội qua những bãi bùn khô trên cứng dưới mềm, những bãi đá dăm sỏi cuội và qua 4 con suối. Mệt lả người và đầy mồ hôi nhưng rồi thì sau cùng nhóm cũng đã đến được trụ sở UBND xã Hữu Khuông. Vài năm trước, khi chưa có dự án thủy điện Bản Vẽ trên sông Nậm Nơn, khi dòng nước còn chưa dâng cao thì nếu muốn đến được bản gần nhất trong xã phải mất 8 tiếng đi băng rừng. Những bản người Mông sát biên giới thì càng xa. Họ đi từ sáng tinh mơ đến lúc trời chạng vạng mới đến bản. Trong xã giờ đã có trạm y tế, nguồn điện mặt trời lẫn các turbin thủy điện 3 pha.

Xã Hữu Khuông có 7 bản với khoảng hơn 2 ngàn nhân khẩu chủ yếu là các dân tộc người Khơ Mú, người Mông, người Thái và người Kinh. Những bản của người Mông sát tận biên giới rất xa với hơn vài chục mái nhà. Khoảng 25km đường rừng. Cuộc sống người dân hoàn toàn mang tính tự cung, tự cấp. Họ trồng rẫy, nuôi gà vịt, đánh bắt cá để có cái ăn mỗi ngày. Nhóm đi từ 5g sáng và khi đến được UBND xã thì đã quá 2g trưa. Trong cái đói lả người vì nhịn đói để đi lại phơi mình dưới trời nắng gắt, cả đám vội mượn xã 1 cái nồi thật lớn nấu nước, đi bẻ những đọt rau rừng để luộc. Bát mì tôm rau rừng với cả đám chưa bao giờ ngon đến thế, trong cái đói cả đoàn ngồi xì xà xì xum bát mì giữa thiên nhiên núi rừng và những người bạn. Đời còn gì hạnh phúc hơn thế nữa.

Huyện Tương Dương đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục cho xã. Nơi đây đã có mái trường học cấp I, cấp II nhưng sau mỗi mùa hè các thầy cô lại phải đến từng mái nhà để vận động các em đến trường vì các em bỏ học rất nhiều. Cuộc sống nghèo đói quanh năm đè nặng lên vai các em, những đứa trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới” nơi bản làng vùng sâu vùng xa. “Cuộc chiến” đưa các em đến lớp của các thầy cô hết sức gian nan vì các em phải lên rừng để kiếm cái ăn hàng ngày. Những đứa trẻ còn chưa kịp lớn như cây ngô trên rẫy đã vội lấy chồng, cưới vợ rồi sinh con đẻ cái. Cái vòng luẩn quẩn nghèo đói, thất học, tảo hôn luôn vây lấy các em. Đôi vai của các em nơi bản làng vùng cao và xa này luôn phải “gánh” thêm một phần nỗi lo cơm áo. Trò chơi tuổi thơ của các em thường lên lên nương săn bắt, xuống suối bơi lội. Cuộc sống gắn với rừng núi, sông ngòi nên các em lên rừng nhanh như nai như sóc, xuống suối thì lanh lẹ như chú rái cá. Hình ảnh những cậu bé đen nhẻm quăng chài lưới trên hồ, những đứa bé ngụp lặn trong lòng suối trong dòng nước đục ngầu để hy vọng bắt được vài con cá bé xíu, những cái đầu trần, làn da đen nhẻm gùi hàng kiếm cái ăn đã ám ảnh mọi người suốt chặng đường quay về, về khái niệm cuộc sống hạnh phúc của bản thân và sự sung túc của cuộc đời.

Nghệ An 26.06.2015

  • 108
  • 2
  • 0
  • 0
Yêu thích Chia sẻ